Thông tư 03/2018/TT-BXD của Bộ Xây dựng chưa phân biệt rõ giữa “tháo dỡ” và “phá dỡ”  
Quay lại Bản in Yahoo
Thông tư 03/2018/TT-BXD của Bộ Xây dựng chưa phân biệt rõ giữa “tháo dỡ” và “phá dỡ”

Theo định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt, “tháo dỡ” và “phá dỡ” đều là động từ, tuy nhiên đây là 02 động từ có sự khác biệt:
“Tháo dỡ” là tháo rời và lấy ra lần lượt từng cái, từng bộ phận hoặc từng thứ một. Ví dụ: tháo dỡ nhà cửa, tháo dỡ hàng hoá,..Trong ngành xây dựng, tháp dỡ thường được sử dụng trong những công trình có kết cấu thép như tháo dỡ nhà xưởng hay những nhà thép tiền chế để nhằm mục đích tái sử dụng vật tư cũ đó.


(Tháo dỡ công trình – Hình ảnh sưu tầm)
“Phá dỡ” là phá hủy toàn bộ kết cấu hoặc một phần công trình có trên một diện tích đất theo ý đồ đã định sẵn.Ví dụ: phá dỡ công trình nhà cao tầng, phá dỡ công trình giao thông,…


(Phá dỡ công trình – Hình ảnh sưu tầm)

Tuy nhiên, hiện có một văn bản quy phạm pháp luật còn có sự nhầm lẫn giữa “tháo dỡ” và “phá dỡ”, gây khó khăn trong việc thi hành pháp luật là Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ Xây dựng hướng dẫn Nghị định 139/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở (gọi tắt là Thông tư 03/2018/TT-BXD).
Tại Điều 4, Thông tư 03/2018/TT-BXD quy định như sau:
“Điều 4. Về áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng quy định tại điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1. Khi người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 2, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, mà hành vi này đã kết thúc, thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm.
2. Công trình, phần công trình xây dựng vi phạm phải được tháo dỡ theo phương án, giải pháp phá dỡ được phê duyệt cho đến khi phần còn lại của công trình đảm bảo an toàn chịu lực khi đưa vào sử dụng.
3. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lập, thẩm tra, phê duyệt và thực hiện phương án, giải pháp phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều này. Phương án, giải pháp phá dỡ phải đảm bảo an toàn công trình xây dựng sau khi phá dỡ phần vi phạm, tính mạng, sức khỏe, công trình xây dựng lân cận và đảm bảo vệ sinh, môi trường.
4. Trường hợp chủ đầu tư không tự giác chấp hành biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm thì bị cưỡng chế thi hành. Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thuê tổ chức tư vấn lập phương án, giải pháp phá dỡ, giao cơ quan chuyên môn về xây dựng cùng cấp thẩm định trước khi quyết định phê duyệt phương án, giải pháp phá dỡ. Chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí liên quan đến việc cưỡng chế tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm: lập, thẩm định, phê duyệt phương án, giải pháp phá dỡ và tổ chức cưỡng chế tháo dỡ.”
Thiết nghĩ, xuất phát từ sự không thống nhất trong cách dùng từ kể trên, Bộ Xây dựng cần sớm có văn bản hướng dẫn các địa phương và các cơ quan, ban, ngành liên quan để tránh nhầm lẫn; đồng thời khẩn trương điều chỉnh vấn đề trên để đảm bảo sự thống nhất và chính xác trong quá trình thi hành pháp luật và xử lý vi phạm hành chính.
Nguyễn Bích Thủy - PTP Diên Khánh


Cập nhật: 24/05/2019
Lượt xem: 32
Lên trên