Một số nhầm lẫn thường gặp trong Luật Xử lý vi phạm hành chính  
Quay lại Bản in Yahoo
Một số nhầm lẫn thường gặp trong Luật Xử lý vi phạm hành chính

Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về XLVPHC nói riêng và về pháp luật nói chung. Luật XLVPHC có ảnh hướng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, tính đến hết năm 2018 tổng số văn bản được Chính phủ ban hành để quy định chi tiết Luật XLVPHC là 101 nghị định, điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực đời sống, xã hội (1). Luật XLVPHC đã góp phần tích cực trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính nhà nước, bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề tồn tại. Nội dung bài này tập trung làm rõ những nhầm lẫn thường gặp:

1. Vi phạm hành chính và tội phạm.
Khái niệm vi phạm hành chính và tội phạm được quy định tại Luật XLVPHC và Bộ Luật hình sự. Theo đó: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính (2); Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự (3). Từ khái niệm trên, xét về dấu hiệu cấu thành thì có thể phân biệt theo một số tiêu chí như sau:
Thứ nhất, chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân và pháp nhân; chủ thể của tội phạm là cá nhân và pháp nhân thương mại.
Thứ hai, mặt chủ quan, do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là khác nhau nên việc quy định “lỗi” trong các quy định pháp luật XLVPHC và hình sự cũng có sự khác biệt. “Lỗi” của tội phạm được phân chia cụ thể hơn gồm có: Cố ý trực tiếp, Cố ý gián tiếp; Vô ý vì quá tự tin, Vô ý do cẩu thả; “lỗi” trong vi phạm hành chính chỉ quy định hai hình thức là cố ý và vô ý, không có sự phân biệt cố ý trực tiếp hay gián tiếp, vô ý vì quá tự tin hay do cẩu thả (4).
Thứ ba, khách thể của vi phạm hành chính và tội phạm được mô tả như hai vòng tròn giao nhau, dù phạm vi giao nhau là khá lớn nhưng vẫn tồn tại những quan hệ xã hội chỉ có thể là vi phạm hành chính, dù có vi phạm nhiều lần cũng không chuyển hóa thành tội phạm (ví dụ, hành vi tiểu tiện nơi công cộng, điều khiển mô tô, xe máy không đội mũ bảo hiểm…), có những hành vi vi phạm pháp luật chỉ có thể là tội phạm chứ không bao giờ là vi phạm hành chính, dù có gây hậu quả hay chưa (ví dụ, hành vi giết người, hiếp dâm…) (5). Có những hành vi tùy theo mức độ có thể là hành vi vi phạm hành chính hoặc tội phạm (ví dụ, hành vi buôn bán hàng cấm thuốc lá điếu nhập lậu nếu số lượng dưới 500 bao thì xử phạt VPHC, từ 500 bao trở lên thì người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự ).
Thứ tư, mặt khách quan là biểu hiện ra bên ngoài của hành vi VPHC và tội phạm. Hành vi vi phạm hành chính được quy định trong các Nghị định quy định xử phạt VPHC còn tội phạm luôn được quy định trong văn bản duy nhất là Bộ Luật hình sự; Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm hình sự (ví dụ: đối với hành vi trộm cắp tài sản, nếu giá trị tài sản lớn hơn 2.000.000 đồng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 173, Bộ Luật Hình sự nếu giá trị dưới 2.000.000 đồng thì sẽ xử lý hành chính theo Khoản 1, Điều 15, Nghị định 167/2013).


(Ảnh minh họa)

Việc phân biệt hành vi VPHC và tội phạm nhằm xác định đúng trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm từ đó có hướng xử lý đúng theo quy định pháp luật, tránh việc “hình sự hóa” vi phạm hành chính hoặc “hành chính hóa” tội phạm. Xử lý tội phạm được giao cho một cơ quan duy nhất đó là Tòa án, được tiến hành theo thủ tục tục tố tụng hình sự và áp dụng các chế tài hình sự như: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn… Trong khi đó, việc xử lý vi phạm hành chính được giao cho nhiều cơ quan, người có thẩm quyền như: Ủy ban nhân dân, Tòa án, chiến sỹ công an, thanh tra viên… thủ tục thực hiện theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và áp dụng các chế tài xử phạt như: cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn…

2. Xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hành chính.
Xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hành chính là hai khái niệm rất hay nhầm lẫn trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Có 05 hình thức xử phạt vi phạm hành chính gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; trục xuất. Xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm. Có 4 biện pháp xử lý hành chính: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phân biệt xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hành chính sẽ giúp người có thẩm quyền có thể xử lý đúng các hành vi vi phạm hành chính, không bị nhầm lẫn trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý, góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương, bảo đảm an toàn xã hội.

3. Tái phạm và vi phạm hành chính nhiều lần.
Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý (6); Vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý (7). Theo đó, có thể hiểu việc phân biệt tái phạm hay vi phạm nhiều lần chủ yếu dựa vào việc hành vi vi phạm đã bị xử lý hay chưa, nếu chưa bị xử lý mà tiếp tục vi phạm là vi phạm nhiều lần còn đã bị xử lý mà tiếp tục vi phạm là tái phạm.
Việc phân biệt vi phạm hành chính nhiều lần và tái phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý hành vi vi phạm hành chính. Bởi hiện nay rất nhiều trường hợp người vi phạm đã bị lập biên bản nhưng vẫn ngoan cố, tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần thì khi ra quyết định xử phạt người có thẩm quyền sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng “vi phạm hành chính nhiều lần”; Trường hợp tái phạm thì sẽ xử lý như hành vi vi phạm mới và áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”./.

Lê Quý Tân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Báo cáo số 82/BC-BTP ngày 22/3/2019 của Bộ Tư pháp.
• Luật Xử lý vi phạm hành chính.
• Bộ Luật hình sự 2015.
• Nguyễn Hoàng Việt, phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2466.
• Nguyễn Thị Thiện Trí, Góp ý dự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính, https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/gop-y-du-thao-luat-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-6318/.
-------------------------------
1. Báo cáo số 82/BC-BTP ngày 22/3/2019 .
2. Khoản 1, Điều 2, Luật Xử lý vi phạm hành chính.
3. Khoản 1, Điều 8, Bộ Luật hình sự 2015.
4. Nguyễn Hoàng Việt, phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2466, xem 14/8/2019.
5. Nguyễn Thị Thiện Trí, Góp ý dự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính, https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/gop-y-du-thao-luat-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-6318/, xem 14/8/2019.
6. Khoản 5, Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
7. Khoản 6, Điều 2, Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Cập nhật: 29/08/2019
Lượt xem: 40
Lên trên