Đề cương giới thiệu Luật đấu thầu  
Quay lại Bản in Yahoo

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

-------------------

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

VỤ PHÁP CHẾ

---------------------

 

 ĐỀ CƯƠNG

Giới thiệu Luật đấu thầu số 43/2013/QH13

----------------------

Ngày 26/11/2013, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 (Sau đây gọi là Luật đấu thầu). Luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 20/2013/L-CTN ngày 09/12/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014.

 

I.                   SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT ĐẤU THẦU

Việc ban hành Luật đấu thầu năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành hai Luật này đã góp phần thiết lập môi trường minh bạch, cạnh tranh cho các hoạt động đấu thầu phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở để chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ, công trình, giúp tiết kiệm nguồn vốn có hạn của nhà nước.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, hoạt động đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước cũng bộc lộ một số bất cập, thể hiện nổi bật trên các mặt như: tính chuyên môn, chuyên nghiệp trong hoạt động đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở một số địa phương; chất lượng, hiệu quả thực hiện một số công việc chuẩn bị cho hoạt động đấu thầu chưa cao; vấn đề quản lý sau đấu thầu chưa được thực hiện thường xuyên và chưa được quan tâm đúng mức… Một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước là do những hạn chế của hệ thống pháp luật về đấu thầu, cụ thể như sau:

1.                  Các quy định về đấu thầu còn tản mạn, thiếu tính đồng bộ và thống nhất. Lĩnh vực đấu thầu bị chia nhỏ, quản lý không tập trung do được quy định rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau gây nên tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn bản, gây khó khăn trong quá trình thực hiện, cụ thể:

-                     Đấu thầu lựa chọn nhà thầu: được quy định tại Luật đấu thầu, Luật xây dựng và Luật sửa đổi một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản (Luật số 38/2009/QH12);

-                     Đấu thầu theo phương thức mua sắm tập trung: được quy định tại Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung, Thông tư số 22/2008/TT-BTC ngày 10/3/2008 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung ban hành kèm theo Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg;

-                     Đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công: được quy định tại Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước;

-                     Đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích: được quy định tại Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ban hành ngày 11/3/2005 của Chính phủ quy định về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, Quyết định số 256/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch thực hiện sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích (đã được thay thế bằng Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2003 của Chính phủ).

Xuất phát từ thực tế nêu trên, cần ban hành Luật đấu thầu với tư cách là luật chung, pháp điển hóa các nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định về hoạt động đấu thầu, khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng một lĩnh vực và bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật.

2.                  Phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu năm 2005 còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhiều hoạt động mua sắm sử dụng nguồn vốn nhà nước đã phát sinh trong thời gian qua. Trên thực tế, các hoạt động nhằm mục đích công như cung cấp dịch vụ công ích nhưng không hình thành dự án; hoạt động sử dụng vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài; hoạt động đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư để thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) và dự án sử dụng đất chưa được quy định cụ thể. Do vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu cần bổ sung những nội dung nêu trên.

3.                  Việc phân cấp trong hoạt động đấu thầu mua sắm tài sản cho cơ quan nhà nước chưa được quy định cụ thể như đối với dự án đầu tư; thủ tục trình duyệt chưa được tinh giản làm mất nhiều thời gian tổ chức hoạt động đấu thầu.

4.                  Việc đánh giá hồ sơ dự thầu theo phương pháp giá đánh giá thấp nhất quy định tại Luật đấu thầu năm 2005 là phương pháp tiên tiến, phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng chưa tính đến điều kiện cụ thể của Việt Nam nên trong một số trường hợp khó áp dụng. Vì vậy, cần bổ sung thêm các phương pháp đánh giá mới để tạo tính chủ động, linh hoạt cho chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu có quy mô, tính chất khác nhau.

5.                  Cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động đấu thầu chưa được quy định cụ thể, chặt chẽ. Thực tế cho thấy, một số hành vi lách luật hoặc không tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật đấu thầu đã phát sinh trong thời gian qua, nhưng chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh và chưa đầy đủ đối với tất cả các bên tham gia hoạt động đấu thầu; cơ chế giải quyết kiến nghị trong đấu thầu chưa hợp lý và chưa rõ ràng trong trường hợp giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6.                  Hệ thống dữ liệu về đấu thầu còn nghèo nàn, gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu trong quá trình theo dõi, quản lý hoạt động đấu thầu cũng như xây dựng chính sách đấu thầu, đồng thời không tạo điều kiện để minh bạch hóa thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát cộng đồng, đặc biệt khi thực hiện chủ trương phân cấp mạnh và hướng đến thực hiện thủ tục đấu thầu qua mạng.

7.                  Chưa đáp ứng yêu cầu của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp

Trong Báo cáo về rà soát pháp luật kinh doanh (rà soát 16 Luật và gần 200 văn bản dưới luật có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp trong đó có Luật đấu thầu năm 2005, với sự tham gia của hơn 2000 lượt doanh nghiệp chuyên gia, 182 tham luận và 879 kiến nghị) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện năm 2011 đã kiến nghị: “pháp điển hóa các quy định liên quan lựa chọn nhà thầu trong các hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và Luật xây dựng cũng như trong các quy định liên quan đến lựa chọn nhà thầu”; sửa đổi, bổ sung Luật đấu thầu theo hướng Luật chung để điều chỉnh toàn bộ hoạt động đấu thầu, “các luật khác như Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật thương mại chỉ quy định những nội dung quản lý đặc thù trong từng lĩnh vực, không quy định lại quy trình, các nội dung chung trong Luật đấu thầu”.

Với những lý do nêu trên, việc xây dựng Luật đấu thầu là yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về mua sắm sử dụng nguồn vốn nhà nước.

 

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT ĐẤU THẦU

Luật đấu thầu được xây dựng trên cơ sở những quan điểm chủ yếu sau:

1.                  Hoàn thiện chính sách đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước phù hợp với chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, trong đó thực hiện tái cơ cấu đầu tư công theo hướng duy trì tỷ trọng đầu tư công truyền thống ở mức hợp lý, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi, minh bạch nhằm thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng trên cơ sở cạnh tranh, từng bước nâng cao hiệu quả và đảm bảo tính dẫn dắt của các hoạt động đầu tư có sử dụng vốn nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực và của nền kinh tế. 

2.                  Tạo cơ sở pháp lý áp dụng đồng bộ, thống nhất chính sách đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong toàn bộ quá trình thực hiện các hoạt động này.

3.                  Ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo cơ hội cho nhà thầu trong nước trúng thầu và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước.

4.                  Kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ các Hiệp định song phương, khu vực và đa phương.

5.                  Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng vốn nhà nước

Để bảo đảm thống nhất quản lý việc chi tiêu, sử dụng vốn nhà nước thì hoạt động đấu thầu cần bảo đảm có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn. Để làm được điều này cần có sự chỉ đạo thống nhất từ các cấp cao nhất, tiếp đến là sự đồng thuận, thống nhất của các bộ, ngành, địa phương, tránh lợi ích cục bộ, không vì lợi ích toàn cục, lợi ích của người dân.

6.                  Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu

Một trong những yếu tố để đạt được hiệu quả của công tác đấu thầu là phải bảo đảm được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Trong hoạt động đấu thầu nói chung và công tác đấu thầu của Việt Nam nói riêng, mục tiêu cạnh tranh đang ngày càng được tăng cường, đặc biệt Luật đấu thầu đưa ra các nguyên tắc để tạo thuận lợi cho các nhà thầu trong nước tăng cường năng lực cạnh tranh để có thể vững vàng hội nhập, tham gia thị trường quốc tế.

7.                  Công khai, minh bạch trong đấu thầu

Công khai, minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa là một trong những yêu cầu cần quán triệt.

Công khai trong đấu thầu có thể hiểu là sự không “che đậy, giấu giếm”, không bí mật vì lợi ích của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó mà cần thể hiện, bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người liên quan hoặc có quan tâm được biết.

8.                  Đảm bảo công bằng trong đấu thầu

Đây là mục tiêu rất quan trọng trong đấu thầu. Trong quá trình thực hiện công tác đấu thầu, phải hết sức tôn trọng quyền lợi của các bên có liên quan. Tính công bằng trong đấu thầu được thể hiện thông qua việc các chủ thể tham gia đều phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu.

9.                  Bảo đảm hiệu quả kinh tế của công tác đấu thầu

            Hiệu quả của công tác đấu thầu chính là việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn của Nhà nước, đảm bảo việc mua sắm đúng và xứng đáng với đồng tiền bỏ ra. Việc sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn cho gói thầu, dự án và hiệu quả dài hạn về kinh tế - xã hội.

10.             Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu

Mục tiêu tiếp theo của Luật đấu thầu là loại trừ tham nhũng. Đây là mục tiêu vừa có tính lâu dài, vừa có tính cấp bách vì Việt Nam đã ký Công ước quốc tế về chống tham nhũng. Có thể nói rằng, tham nhũng là một trong những căn bệnh dễ nảy sinh trong quá trình lựa chọn nhà thầu vì công quỹ, tài sản là của Nhà nước, của chung, thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng giao thông có lượng vốn đầu tư thường rất lớn trong khi quản lý nhà nước còn lỏng lẻo.

11.             Đáp ứng yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đấu thầu

Cải cách thủ tục hành chính là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được triển khai thực hiện trong nhiều năm qua và thu được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực trong việc cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Việc sửa đổi theo hướng đơn giản hơn nữa các quy định mang tính quy trình, thủ tục trong đấu thầu nhằm đáp ứng các yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính quy định tại Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ.

 

III. BỐ CỤC VÀ CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐẤU THẦU

1.                  Bố cục của Luật đấu thầu

Luật đấu thầu bao gồm 13 chương và 96 điều với kết cấu rõ ràng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong đấu thầu nghiên cứu, áp dụng, cụ thể như sau:

- Chương I. Quy định chung

Gồm 19 điều (từ Điều 1 đến Điều 19): Quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; áp dụng Luật đấu thầu, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; giải thích từ ngữ; tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư; bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu; điều kiện phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; thông tin về đấu thầu; ngôn ngữ sử dụng trong đấu thầu; đồng tiền dự thầu; bảo đảm dự thầu; thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; chi phí trong đấu thầu; ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu; đấu thầu quốc tế; điều kiện đối với cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu; các trường hợp hủy thầu; trách nhiệm khi hủy thầu và đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu.

- Chương II. Hình thức, phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư và tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp

Gồm 3 mục, 13 điều (từ Điều 20 đến Điều 32):

     + Mục 1. Hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, gồm 08 điều (từ Điều 20 đến Điều 27) quy định về đấu thầu rộng rãi; đấu thầu hạn chế; chỉ định thầu; chào hàng cạnh tranh; mua sắm trực tiếp; tự thực hiện; lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; tham gia thực hiện của cộng đồng;

     + Mục 2. Phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, gồm 04 điều (từ Điều 28 đến Điều 31) quy định về phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ; phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ;

     + Mục 3. Tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp, gồm 01 điều (Điều 32) quy định về tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp.

- Chương III. Kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầu

Gồm 06 điều (từ Điều 33 đến Điều 38): Quy định về nguyên tắc lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu; lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu; nội dung kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với từng gói thầu; trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; quy trình lựa chọn nhà thầu.

- Chương IV. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; xét duyệt trúng thầu

Gồm 05 điều (từ Điều 39 đến Điều 43): Quy định về phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn; phương pháp đánh giá hồ sơ đề xuất; xét duyệt trúng thầu đối với đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn và xét duyệt trúng thầu đối với đấu thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp.

- Chương V. Mua sắm tập trung, mua sắm thường xuyên, mua thuốc, vật tư y tế; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công

Gồm 4 mục, 11 điều (từ Điều 44 đến Điều 54):

       + Mục 1. Mua sắm tập trung, gồm 02 điều quy định (từ Điều 44 đến Điều 45): Quy định chung về mua sắm tập trung; thỏa thuận khung;

       +   Mục 2. Mua sắm thường xuyên, gồm 02 điều (từ Điều 46 đến Điều 47): Điều kiện áp dụng; tổ chức lựa chọn nhà thầu;

       + Mục 3. Mua thuốc, vật tư y tế, gồm 05 điều (từ Điều 48 đến Điều 52): Lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế; mua thuốc tập trung; ưu đãi trong mua thuốc; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong đấu thầu thuốc, vật tư y tế; thanh toán chi phí mua thuốc, vật tư y tế;

       + Mục 4. Cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gồm 2 Điều (từ Điều 53 đến Điều 54): hình thức lựa chọn nhà thầu; quy trình lựa chọn nhà thầu.

- Chương VI. Lựa chọn nhà đầu tư

Gồm 05 điều (từ Điều 55 đến Điều 59): Quy đinh về kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư; quy trình lựa chọn nhà đầu tư; trình, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư, hồ sơ mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và kết quả lựa chọn nhà đầu tư; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; xét duyệt trúng thầu trong lựa chọn nhà đầu tư.

- Chương VII. Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng

Gồm 02 điều (từ Điều 60 đến Điều 61): Quy định lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng; yêu cầu đối với hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

- Chương VIII. Hợp đồng

Gồm 2 mục, 11 điều (từ Điều 62 đến Điều 72):

                    + Mục 1. Hợp đồng với nhà thầu, gồm 06 điều (từ Điều 62 đến Điều 67): Quy định về loại hợp đồng; hồ sơ hợp đồng; điều kiện ký kết hợp đồng; hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn; bảo đảm thực hiện hợp đồng; nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng;

        + Mục 2. Hợp đồng với nhà đầu tư, gồm 05 điều (từ Điều 68 đến Điều 72): Quy định về loại hợp đồng; hồ sơ hợp đồng; điều kiện ký kết hợp đồng; hợp đồng với nhà đầu tư được lựa chọn; bảo đảm thực hiện hợp đồng.

- Chương IX. Trách nhiệm của các bên trong lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

Gồm 08 điều (từ Điều 73 đến Điều 80): Quy định về trách nhiệm của người có thẩm quyền; trách nhiệm của chủ đầu tư; trách nhiệm của bên mời thầu; trách nhiệm của tổ chuyên gia; trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư; trách nhiệm của tổ chức thẩm định; trách nhiệm của bên mời thầu tham gia hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

- Chương X. Quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu

Gồm 08 điều (từ Điều 81 đến Điều 88): Quy định về nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của tổ chức vận hành hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; xử lý tình huống; thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động đấu thầu và khiếu nại, tố cáo.

- Chương XI. Hành vi bị cấm và xử lý vi phạm trong đấu thầu

Gồm 02 điều (từ Điều 89 đến Điều 90): Quy định về các hành vi bị cấm trong đấu thầu và xử lý vi phạm.

- Chương XII. Giải quyết kiến nghị và tranh chấp trong đấu thầu

Gồm 2 mục, 04 điều (từ Điều 91 đến Điều 94):

         + Mục 1. Giải quyết kiến nghị trong đấu thầu, gồm 02 điều (tử Điều 91 đến Điều 92): Quy định về giải quyết kiến nghị trong đấu thầu và quy trình giải quyết kiến nghị;

         + Mục 2. Giải quyết tranh chấp trong đấu thầu tại tòa án, gồm 02 điều (từ Điều 93 đến Điều 94): Quy định về nguyên tắc giải quyết và quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Chương XIII. Điều khoản thi hành

Gồm 02 điều (từ Điều 95 đến Điều 96): Quy định về hiệu lực thi hành và quy định chi tiết.

2. Một số nội dụng mới cơ bản trong Luật đầu thầu

2.1.           Phạm vi điều chỉnh (Điều 1 Luật đấu thầu)

 

Ngoài phạm vi điều chỉnh nêu trong Luật đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu còn điều chỉnh các hoạt động mua sắm khác, như sau:

- Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: (không phân biệt nguồn vốn):

-                     Hoạt động mua sắm sử dụng vốn nhà nước nhằm cung cấp cấp sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công.

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở pháp điển hóa Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ, Quyết định số 256/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, thực tế trong quá trình triển khai thực hiện các hoạt động này không gặp khó khăn, vướng mắc.

-                     Mua hàng dự trữ quốc gia sử dụng vốn nhà nước;

-                     Mua thuốc, vật tư y tế sử dụng vốn nhà nước; nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập:

            Thuốc chữa bệnh là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của người dân, kinh phí dùng để mua thuốc chữa bệnh được lấy chủ yếu từ quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu viện phí, tiền mua thuốc của bệnh nhân và một số nguồn thu khác (trong đó nguồn vốn từ ngân sách nhà nước dùng cho mua thuốc chữa bệnh không lớn). Khái niệm vốn nhà nước không bao gồm quỹ bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, trong khi hoạt động mua thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng từ các nguồn này. Do đó, trong Luật đấu thầu đã bổ sung một Mục quy định riêng về mua thuốc cho các cơ sở y tế sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, nguồn quỹ bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, trong đó có quy định về các hình thức lựa chọn nhà thầu (bao gồm cả hình thức đàm phán giá), quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, điều kiện xét duyệt trúng thầu, mua thuốc tập trung và thanh toán chi phí mua thuốc cho các cơ sở y tế ngoài công lập nếu được chi trả từ nguồn bảo hiểm y tế.

-                     Lựa chọn nhà thầu thực hiện cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam mà dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án.

Đối với dự án FDI sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp nhà nước cần quy định nguyên tắc việc áp dụng đấu thầu trong Luật; các dự án có sử dụng một phần vốn nhà nước mua sắm thiết bị, hàng hóa… trên lãnh thổ Việt Nam để thực hiện dự án đối với nước tiếp nhận thì phải tuân thủ quy định Luật đấu thầu của Việt Nam, phần còn lại thực hiện ở nước ngoài thì áp dụng theo Hiệp định mà Việt Nam ký kết với nước tiếp nhận đầu tư và pháp luật nước đó.

-                     Hoạt động đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất.

Luật đấu thầu quy định về lựa chọn nhà đầu tư nhằm phục vụ cho việc triển khai đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP, khuyến khích, thu hút nguồn lực tư nhân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhiệm vụ tái cấu trúc đầu tư công, tái cấu trúc nền kinh tế. Nội dung này được xây dựng trên cơ sở pháp điển hóa các nội dung liên quan đến lựa chọn nhà đầu tư quy định tại Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ, Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT ngày 27/01/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

- Đối với trường hợp lựa chọn nhà thầu cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn để bảo đảm tính liên tục cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp nhà nước; thực hiện gói thầu thuộc dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất của nhà đầu tư được lựa chọn thì doanh nghiệp phải ban hành quy định về lựa chọn nhà thầu để áp dụng thống nhất trong doanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm mục tiêu công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

2.2. Hệ thống dữ liệu về đấu thầu (Điểm d Khoản 1 Điều 5 Luật đấu thầu)

Hiện nay, hệ thống dữ liệu về đấu thầu của Việt Nam còn nghèo nàn, chưa được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên các thông tin về chủ đầu tư, bên mời thầu, nhà thầu trong nước, nước ngoài và các dữ liệu liên quan đến hoạt động đấu thầu. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc theo dõi, quản lý hoạt động đấu thầu cũng như xây dựng chính sách đấu thầu, đồng thời không tạo điều kiện để minh bạch hóa thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát cộng đồng. Nhằm khắc phục hạn chế này, Luật đấu thầu bổ sung quy định về xây dựng hệ thống dữ liệu về đấu thầu để góp phần công khai, minh bạch hóa thông tin liên quan đến hoạt động đấu thầu. Theo đó, tại Điều 5 về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư bổ sung thêm điều kiện “đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia”.

2.3. Ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo cơ hội cho nhà thầu trong nước trúng thầu và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước

2.3.1. Yêu cầu nhà thầu nước ngoài liên danh hoặc sử dụng nhà thầu phụ Việt Nam (Điều 5 Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu đưa ra quy định yêu cầu nhà thầu nước ngoài khi tham dự thầu quốc tế tại Việt Nam phải liên danh hoặc ký hợp đồng với nhà thầu phụ Việt Nam. Nhà thầu nước ngoài chỉ được phép sử dụng lao động nước ngoài khi lao động trong nước không đủ khả năng thực hiện và không đáp ứng yêu cầu của gói thầu theo quy định của pháp luật.

Quy định nêu trên nhằm tiếp tục khẳng định chính sách ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước đồng thời từng bước giúp nhà thầu Việt Nam tiếp nhận công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tự chủ, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh để tiến tới trở thành nhà thầu độc lập thực hiện các gói thầu lớn, công nghệ cao, phức tạp không chỉ tại thị trường Việt Nam mà cả trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, Luật đấu thầu (Điều 15) quy định việc tổ chức đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà thầu chỉ được thực hiện khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: (a) Nhà tài trợ vốn cho gói thầu có yêu cầu tổ chức đấu thầu quốc tế; (b) Gói thầu mua sắm hàng hóa mà hàng hóa đó trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, giá. Trường hợp hàng hóa thông dụng, đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam thì không tổ chức đấu thầu quốc tế; (c) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp, hỗn hợp mà nhà thầu trong nước không có khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu; (d) Đấu thầu quốc tế đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất, trừ trường hợp hạn chế đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

2.3.2. Ưu đãi nhà thầu và hàng hóa trong nước (Điều 14 Luật đấu thầu)

- Nhà thầu được hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu trong nước hoặc đấu thầu quốc tế để cung cấp hàng hóa mà hàng hóa đó có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ từ 25% trở lên.

- Đối tượng được hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu quốc tế để cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp bao gồm: (a) Nhà thầu trong nước tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh; (b) Nhà thầu nước ngoài liên danh với nhà thầu trong nước mà nhà thầu trong nước đảm nhận từ 25% trở lên giá trị công việc của gói thầu.

- Nhà thầu là doanh nghiệp nhỏ hoặc nhà thầu có từ 25% trở lên số lượng lao động là nữ giới; thương binh, người khuyết tật hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu trong nước để cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp

2.4. Thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư (Điều 12 Luật đấu thầu)

Để hoạt động đầu thầu được triển khai theo đúng tiến độ của dự án và phù hợp với thực tế thực hiện của các Bộ, ngành và địa phương, Luật đấu thầu đã sửa đổi quy định hiện hành theo hướng xác định thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu phù hợp với quy mô, tính chất của từng gói thầu. Theo đó, gói thầu quy mô nhỏ, gói thầu do cấp xã, phường thực hiện, gói thầu có sự tham gia của cộng đồng sẽ có thời gian tổ chức thực hiện ngắn hơn so với các loại gói thầu còn lại.

2.5. Điều kiện đối với các bên tham gia hoạt động đấu thầu (Điều 16 Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu đã quy định cụ thể hơn về điều kiện đối với các bên tham gia hoạt động đấu thầu, cụ thể như sau:

- Cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu phải có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu và có trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của gói thầu, dự án, trừ cá nhân thuộc nhà thầu, nhà đầu tư.

- Cá nhân tham gia trực tiếp vào việc lập hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất thuộc tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị hoạt động tư vấn đấu thầu, ban quản lý dự án chuyên nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu.

Lý do bổ sung quy định như trên là vì đấu thầu được coi như là một nghề, người hành nghề ngoài việc hiểu biết kiến thức cơ bản thì còn phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ nên cần quy định về chứng chỉ hành nghề để tạo cơ sở pháp lý trong quá trình triển khai thực hiện, đồng thời tăng cường tính chuyên môn, chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề khi tham gia hoạt động đấu thầu.

2.6. Chỉ định thầu (Điều 22 Luật đấu thầu)

Cần phải tạo môi trường thuận lợi tối đa nhằm thu hút nhà đầu tư tư nhân bỏ vốn tham gia đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước; việc lựa chọn nhà đầu tư để thực hiện các dự án PPP cần phải được thông thoáng, linh hoạt, giảm thiểu các thủ tục hành chính. Do đó, để đạt được mục tiêu nêu trên thì nội dung về chỉ định thầu đối với nhà đầu tư quy định như sau: (a) Chỉ có một nhà đầu tư đăng ký thực hiện; (b) Chỉ có một nhà đầu tư có khả năng thực hiện do liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, công nghệ hoặc thu xếp vốn; (c) Nhà đầu tư đề xuất dự án đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án khả thi và hiệu quả cao nhất theo quy định của Chính phủ

2.7. Chào hàng cạnh tranh và mua sắm trực tiếp (Điều 23, 24 Luật đấu thầu)

Đối với hình thức chào hàng cạnh tranh (Điều 23) bổ sung thêm trường hợp được áp dụng, đó là gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản; gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt.

Đối với hình thức mua sắm trực tiếp (Điều 24) bổ sung thêm điều kiện áp dụng như sau: Gói thầu có nội dung, tính chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% so với gói thầu đã ký hợp đồng trước đó; thời hạn từ khi ký hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp không quá 12 tháng. Ngoài ra có 1 nội dung bổ sung thêm theo hướng linh hoạt hơn đó là trường hợp nhà thầu thực hiện hợp đồng trước đó không có khả năng tiếp tục thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì được áp dụng mua sắm trực tiếp đối với nhà thầu khác nếu đáp ứng các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật và giá theo hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó.

2.8. Kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầu; lựa chọn nhà đầu tư; lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng (Chương III, Chương VI, Chương VII Luật đấu thầu)

 

Luật đấu thầu đã sửa đổi một số quy định hiện hành nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đấu thầu theo tinh thần Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 của Chính phủ quy định về việc đơn giản hoá 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, ngành và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ quy định về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đồng thời quy định cụ thể hơn về các quy trình lựa chọn nhà thầu trong từng trường hợp cụ thể, gồm: (a) quy trình lựa chọn nhà thầu đối với dự án; (b) quy trình lựa chọn nhà thầu đối với mua sắm thường xuyên; (c) quy trình lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu tập trung; (d) quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế; (đ) quy trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng; và (e) quy trình lựa chọn nhà đầu tư.

2.9. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu (Điều 39, 58 Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu quy định rõ phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu theo từng lĩnh vực cụ thể: lựa chọn nhà thầu (dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp); lựa chọn nhà đầu tư.

Mặt khác, Luật đấu thầu đã bổ sung một số phương pháp mới trong đánh giá hồ sơ dự thầu. Cụ thể như sau:

- Đối với gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp: ngoài phương pháp giá đánh giá thấp nhất đã được quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu bổ sung hai phương pháp đánh giá mới là phương pháp giá thấp nhất và phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá;

- Đối với gói thầu tư vấn: ngoài phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và tài chính, phương pháp dựa trên kỹ thuật đã được quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu bổ sung thêm hai phương pháp đánh giá mới là phương pháp giá thấp nhất và phương pháp giá cố định.

Việc bổ sung quy định về phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm đa dạng hóa các phương pháp đánh giá khác nhau phù hợp với từng loại hình và quy mô của gói thầu, đồng thời khắc phục tình trạng bỏ thầu giá thấp nhưng không đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu.

2.10. Phương thức lựa chọn nhà thầu và nhà đầu tư (Mục 2 Chương II Luật đấu thầu)

Để tạo thuận lợi và linh hoạt trong việc áp dụng phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, Luật đấu thầu đã quy định 4 phương thức bao gồm: phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ, phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ, phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Đối với phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp (Luật đấu thầu năm 2005 chỉ áp dụng cho dịch vụ tư vấn) thì chỉ nhà thầu nào đáp ứng về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật mới được mở hồ sơ đề xuất về tài chính để xem xét, so sánh, xếp hạng. Với phương thức này nếu nhà thầu bỏ giá thầu thấp nhưng năng lực, kinh nghiệm và kỹ thuật không đáp ứng sẽ bị loại trước khi mở hồ sơ đề xuất về tài chính.

 

2.11. Lựa chọn nhà thầu trong mua sắm tập trung (Mục 1 Chương V Luật đấu thầu)

Trên cơ sở tổng hợp các thông lệ quốc tế tốt và kết quả thí điểm thực hiện tại Việt Nam, Luật đấu thầu bổ sung hình thức mua sắm tập trung để áp dụng rộng rãi trong công tác đấu thầu. Theo hình thức này, thay vì tổ chức mua sắm ở hàng trăm cơ quan khác nhau thì cơ quan mua sắm tập trung sẽ chịu trách nhiệm tổ chức mua sắm chuyên nghiệp một lần. Hình thức này không chỉ giúp tăng tính chuyên nghiệp trong hoạt động mua sắm mà còn tạo điều kiện nâng cao hiệu quả, rút ngắn thời gian và chi phí tổ chức mua sắm, đồng thời hỗ trợ phát triển sản xuất trong nước và khuyến khích nhà thầu nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra việc áp dụng thỏa thuận hợp đồng khung trong mua sắm tập trung và việc hình thành các tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp cho hợp lý sẽ giúp tăng hiệu quả kinh tế - xã hội của công tác đấu thầu, phát triển sản xuất trong nước.

Việc mua sắm tập trung được thực hiện theo một trong 2 cách sau đây:

a) Đơn vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ;

b) Đơn vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, ký văn bản thỏa thuận khung với một hoặc nhiều nhà thầu được lựa chọn làm cơ sở để các đơn vị có nhu cầu mua sắm trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

2.12. Lựa chọn nhà thầu trong mua sắm thường xuyên (Mục 2 Chương V Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu bổ sung một số nguyên tắc chính và quy trình tổng quát trong mua sắm thường xuyên nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý của quy định này, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật về đấu thầu (hiện tại vấn đề này chỉ được quy định trong Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26/4/2012 của Bộ Tài chính quy định về việc đấu thầu để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân); đồng thời phân cấp trong đấu thầu mua sắm thường xuyên được quy định cụ thể hơn để tăng cường trách nhiệm giải trình, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

2.13. Lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế (Mục 3 Chương V Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu (Chương V Mục 3) có một nội dung mới đó là bổ sung thêm 1 Mục về lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế, trong đó có quy định về hình thức đàm phán giá. Đây là hình thức mới chỉ áp dụng đối với gói thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế và được áp dụng đối với gói thầu mua thuốc chỉ có từ một đến hai nhà sản xuất; thuốc biệt dược gốc, thuốc hiếm, thuốc trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặc thù khác.

Ngoài ra việc mua thuốc cũng được áp dụng theo hình thức đấu thầu tập trung và được thực hiện ở cấp quốc gia và cấp địa phương.

Về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong đấu thầu thuốc, vật tư y tế, Luật đấu thầu quy định: (1) Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành danh mục thuốc đấu thầu; danh mục thuốc đấu thầu tập trung; danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá.  (2) Chính phủ quy định trách nhiệm của các bộ, ngành trong đấu thầu thuốc, vật tư y tế và việc công khai giá thuốc, vật tư y tế theo kết quả lựa chọn nhà thầu.

2.14. Lựa chọn nhà đầu tư (Chương VI Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thủ tục, phương pháp lựa chọn nhà đầu tư trên cơ sở tổng hợp các thông lệ quốc tế tốt và rút kinh nghiệm từ thực tiễn lựa chọn nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam trong thời gian qua. Đi đôi với giải pháp triển khai quyết liệt để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công, quy định này góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thu hút, lựa chọn nhà đầu tư một cách minh bạch, cạnh tranh; xây dựng niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Các quy định về lựa chọn nhà đầu tư bao gồm: kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư, quy trình lựa chọn nhà đầu tư; trình, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư, hồ sơ mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và kết quả lựa chọn nhà đầu tư; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; xét duyệt trúng thầu trong lựa chọn nhà đầu tư.

Riêng đối với phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu bao gồm phương pháp giá dịch vụ, phương pháp vốn góp của Nhà nước, phương pháp lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước và phương pháp kết hợp

2.15. Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng (Điều 60 Luật đấu thầu)

Trên cơ sở kết quả thí điểm thực hiện thành công hoạt động đấu thầu qua mạng trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012, Luật đấu thầu bổ sung quy định về đấu thầu qua mạng nhằm minh bạch hóa và đơn giản hóa thủ tục đấu thầu, đồng thời thực hiện đầy đủ cam kết với cộng đồng quốc tế về quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tăng cường hiệu quả của hoạt động đấu thầu.

Các nội dung được thực hiện trên mạng đấu thầu quốc gia bao gồm: (a) Đăng tải thông tin về đấu thầu; (b) Đăng tải hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; (c) Nộp bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thỏa thuận liên danh; (d) Nộp, rút hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; (đ) Mở thầu; (e) Đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; (g) Ký kết, thanh toán hợp đồng; (h) Các nội dung khác có liên quan.

2.16. Hợp đồng (Chương VIII Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu đã quy định một số nội dung về hợp đồng theo hướng chỉ quy định về một số nội dung chính, mang tính nguyên tắc của hợp đồng có liên quan đến việc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; các nội dung cụ thể khác sẽ được quy định trong các Nghị định, Thông tư hướng dẫn mẫu hồ sơ mời thầu theo từng lĩnh vực chuyên ngành để phù hợp với đặc thù riêng của từng loại hợp đồng do các luật chuyên ngành quy định. Khi lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật này thì loại hợp đồng trọn gói phải là loại hợp đồng cơ bản có thể áp dụng cho tất cả các loại gói thầu.

Việc quy định hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản sẽ có những ưu điểm như: giá hợp đồng là cố định nên thuận lợi cho việc xác định và phân bổ kế hoạch vốn; việc quản lý chi phí đơn giản, thuận tiện góp phần cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, việc áp dụng loại hợp đồng này một cách rộng rãi cũng sẽ có một số nhược điểm như: không linh hoạt trong trường hợp có phát sinh hợp lý khi phải thay đổi thiết kế; đòi hỏi hồ sơ thiết kế phục vụ đấu thầu phải có độ chính xác cao; không khả thi trong trường hợp thị trường vật tư, vật liệu có biến động lớn bất thường (như thời điểm năm 2007, 2008). Ngoài ra, do giá hợp đồng trọn gói cần tính toán đầy đủ cả các chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá và phát sinh khối lượng nên sẽ tạo ra tình trạng giá ảo do nhà thầu tham dự đấu thầu luôn chào giá ở mức cao để tránh rủi ro[1]. Do vậy, trong Luật đấu thầu, bên cạnh loại hợp đồng trọn gói là chủ đạo, Luật cần quy định các loại hợp đồng  theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh và hợp đồng theo thời gian.

Khi thực hiện lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật này chỉ được phép áp dụng 4 loại hợp đồng quy định tại Điều 62 Luật đấu thầu, bao gồm: hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, hợp đồng theo thời gian.

2.17. Phân cấp trách nhiệm trong đấu thầu (Chương IX Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu tiếp tục giao người quyết định đầu tư (người có thẩm quyền), chủ đầu tư chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình tổ chức lựa chọn và thực hiện gói thầu. Tuy nhiên, khác với quy định của Luật đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu đã phân cấp triệt để việc quyết định hình thức chỉ định thầu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp mà không yêu cầu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Tuy nhiên, để việc phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình, tránh khép kín trong đấu thầu, Luật đấu thầu đã bổ sung quy định về trách nhiệm giải trình của người có thẩm quyền, chủ đầu tư trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. (xem Khoản 1, 11 Điều 73; Điều 82 và Khoản 6 Điều 84 Luật đấu thầu).

Riêng đối với người có thẩm quyền (Điều 73) có thêm trách nhiệm điều chỉnh nhiệm vụ và thẩm quyền của chủ đầu tư trong trường hợp chủ đầu tư không đáp ứng quy định của pháp luật về đấu thầu và các yêu cầu của dự án, gói thầu; có ý kiến đối với việc xử lý tình huống trong trường hợp phức tạp theo đề nghị của chủ đầu tư (Điểm a Khoản 7 Điều 73 Luật đấu thầu).

2.18. Giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu (Chương XI Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu bổ sung trách nhiệm về giám sát của người có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu, tuy nhiên riêng đối với người có thẩm quyền thì việc giám sát hoạt động đấu thầu là công việc mang tính thường xuyên nhằm đảm bảo quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cá nhân đối với từng hoạt động trong quá trình đấu thầu để có cơ sở quy định chế tài xử lý vi phạm tương ứng với từng hành vi vi phạm. Mặt khác, nhằm tăng cường chế tài xử lý vi phạm trong đấu thầu, Luật đấu thầu quy định rõ các nhóm hành vi bị cấm trong đấu thầu như sau:

1. Đưa, nhận, môi giới hối lộ

2. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động đấu thầu

3. Thông thầu

4. Gian lận

5. Cản trở

6. Không bảo đảm công bằng, minh bạch

7. Tiết lộ, tiếp nhận những tài liệu, thông tin sau đây về quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư

8. Chuyển nhượng thầu

9. Tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định dẫn tới tình trạng nợ đọng vốn của nhà thầu

 Đồng thời Luật đấu thầu quy định thêm biện pháp xử phạt đối với cá nhân được giao trách nhiệm xử phạt nhưng không tuân thủ quy định, các biện pháp phạt bổ sung như đăng tải công khai các tổ chức, cá nhân vi phạm trên phương tiện thông tin đại chúng, buộc phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định.

Ngoài ra, Luật đấu thầu bổ sung quy định người có thẩm quyền có quyền nhất định về xử phạt trong quan hệ kinh tế, dân sự như đối với quan hệ hành chính. Cơ chế ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư cần được quy định trong Luật Đấu thầu cũng như trong các luật về hình sự, dân sự, xử lý vi phạm hành chính hiện hành. Do vậy, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Luật đấu thầu phải quy định nguyên tắc chung về xử lý vi phạm trong đấu thầu như sau: người nào có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự; trường hợp các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại.

Đồng thời, để tăng tính phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả hơn các hành vi vi phạm trong đấu thầu, Luật đấu thầu cần bổ sung quy định hình thức xử phạt trong mối quan hệ kinh tế, dân sự, cụ thể là: người có thẩm quyền có quyền quyết định cấm tham gia hoạt động đấu thầu đối với các dự án do mình quyết định đầu tư; trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cấm tham gia hoạt động đấu thầu trong phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương hoặc đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành quyết định cấm tham gia hoạt động đấu thầu trên phạm vi cả nước và trong tất cả các ngành.

2.19. Giải quyết kiến nghị trong đấu thầu (Mục 1 Chương XII Luật đấu thầu)

Cơ chế giải quyết kiến nghị quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005 vẫn còn nặng về thủ tục hành chính, chưa thật sự đem lại hiệu quả, chưa đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhà thầu - một bên tham gia đấu thầu. Quá trình đấu thầu theo phân cấp từ khâu lập hồ sơ mời thầu đến ký hợp đồng phần lớn đều do bên mời thầu, chủ đầu tư tổ chức thực hiện. Việc để bên mời thầu (đối với dự án) tham gia giải quyết kiến nghị của nhà thầu sẽ có thể dẫn đến không đảm bảo khách quan, công bằng và thường các nhà thầu không đồng ý với kết quả giải quyết kiến nghị mà bên mời thầu đưa ra.

Từ thực tế nêu trên, Luật đấu thầu đã lược bỏ cấp bên mời thầu (đối với dự án) tham gia giải quyết kiến nghị của nhà thầu nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi kết quả giải quyết kiến nghị và tăng cường hiệu quả của công tác giải quyết kiến nghị trong đấu thầu. Ngoài ra tại khoản 2 Điều 91 Luật đấu thầu bổ sung thêm quy định: Nhà thầu, nhà đầu tư đã khởi kiện ra Tòa án thì không gửi kiến nghị đến bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền. Trường hợp đang trong quá trình giải quyết kiến nghị mà nhà thầu, nhà đầu tư khởi kiện ra Tòa án thì việc giải quyết kiến nghị được chấm dứt ngay.

2.20. Giải quyết tranh chấp trong đấu thầu tại tòa án (Mục 2 Chương XII Luật đấu thầu)

Theo thông lệ quốc tế, việc giải quyết kiến nghị trong đấu thầu được thực hiện bởi một cơ quan hành chính hoặc tư pháp độc lập cũng như cần có cơ chế cho phép áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết kiến nghị trong đấu thầu. Tại thời điểm hiện nay, ở Việt Nam chưa có cơ quan hành chính độc lập mà chỉ có cơ quan tư pháp độc lập là tòa án, tuy nhiên lại chưa có quy định rõ ràng về việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự hay hành chính để giải quyết kiến nghị trong đấu thầu tại tòa án. Do vậy, Luật đấu thầu bổ sung quy định về việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự khi giải quyết kiến nghị trong đấu thầu tại tòa án. Việc Luật đấu thầu quy định về nguyên tắc giải quyết, quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm giúp cho các nhà thầu, đặc biệt là những nhà thầu nước ngoài chưa hiểu biết nhiều về pháp luật Việt Nam dễ dàng tra cứu, tiếp cận trong quá trình tham dự thầu.

 

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1.                  Hiệu lực thi hành

Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Ngoài ra bãi bỏ Mục 1 Chương VI Luật xây dựng số 16/2003/QH11 và Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12

2. Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành:

Hiện nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang soạn thảo 02 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu trong lựa chọn nhà thầu và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu trong lựa chọn nhà đầu tư, dự kiến trình Chính phủ thông qua vào tháng 6/2014. Ngoài ra trong năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến sẽ ban hành các Thông tư hướng dẫn như: Thông tư quy định chi tiết việc lập hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp; Thông tư quy định chi tiết việc lập hồ sơ mời thầu gói thầu mua sắm hàng hóa; Thông tư quy định chi tiết việc lập hồ sơ mời thầu dịch vụ tư vấn; Thông tư quy định chi tiết lập báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp; Thông tư quy định chi tiết lập báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu dịch vụ tư vấn; Thông tư quy định về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu; Thông tư quy định chi tiết đấu thầu qua mạng; Thông tư liên tịch quy định chi tiết việc cung cấp thông tin về đấu thầu đăng tải trên Báo Đấu thầu.

Một số nội dung trong Luật giao Chính phủ quy định chi tiết, đó là: Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu; thông tin về đấu thầu; thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu đối với gói thầu quy mô nhỏ, gói thầu có sự tham gia của cộng đồng, thời gian trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư, thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng; chi phí trong đấu thầu; ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu; đấu thầu quốc tế; đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu; hạn mức gói thầu quy mô nhỏ; tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp; quy trình lựa chọn nhà thầu; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, hồ sơ mời thầu, XL, hỗn hợp; quy định chung về mua sắm tập trung; tổ chức lựa chọn nhà thầu trong mua sắm thường xuyên; lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế; Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong đấu thầu thuốc, vật tư y tế; quy trình lựa chọn nhà thầu; quy trình lựa chọn nhà đầu tư; trình, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, HSMST, kết quả sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, HSYC và kết quả lựa chọn nhà thầu; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng; hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn; xử lý tình huống; thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đấu thầu; xử lý vi phạm; quy trình giải quyết kiến nghị.

3. Tuyên truyền, phổ biến Luật:

Do Luật đấu thầu năm 2013 đã sửa đổi toàn diện Luật đấu thầu năm 2005 vì vậy việc phổ biến tuyên truyền về nội dung của Luật đấu thầu 2013 là quan trọng và cần thiết. Ngoài việc tuyên truyền, phổ biến trực tiếp tới các cá nhân thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tổ chức phổ biến luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo giấy, báo điện tử, phát thanh truyền hình…).

Trong năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến tổ chức các lớp tập huấn phổ biến Luật đấu thầu tại 3 miền Bắc, Trung, Nam cho các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu như các cá nhân thuộc Chủ đầu tư, Bên mời thầu, Cơ quan, tổ chức thẩm định, tư vấn đấu thầu, nhà thầu…và các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu như Cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát; tổ chức, công ty kiểm toán độc lập; công luận, các cơ quan báo chí…



[1] Theo tư vấn của chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), sử dụng hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh và hạn chế điều chỉnh giá sẽ giúp giá hợp đồng ít biến động nhưng có thể dẫn đến các tác động tiêu cực như: giá dự thầu cao hơn do nhà thầu phải đưa vào dự phòng, giảm cạnh tranh, dễ dẫn đến nhà thầu bỏ không thực hiện hợp đồng nếu giá biến động nhiều và chủ đầu tư có thể sẽ phải trả nhiều tiền nếu muốn điều chỉnh phạm vi hợp đồng

Cập nhật: 28/05/2014
Lượt xem: 19340
Lên trên